Expressvnn's Blog

Nơi thường xuyên đăng tải Tin nóng! Tin Sốc!

Chuyện vui: Tương lai của Việt Nam trong 10 năm tới

Posted by expressvnn on May 3, 2010

Chuyện vui: Tương lai của Việt Nam trong 10 năm tới

Nông Đức Mạnh sang Úc, được mời tới thăm một xưởng chế tạo điện toán. Kỹ sư trưởng biểu diễn cho Mạnh thấy hiệu quả của chương trình:

– Này nhé, chương trình điện toán của tôi có thể hỏi bất cứ điều gì. Thí dụ tôi hỏi máy “Tương lai của nước Pháp sẽ ra sao trong hai mươi năm tới?”. Lập tức máy sẽ in ra mấy chục trang cho biết về tương lai của nước Pháp bằng chính ngôn ngữ của quốc gia họ mới hay chứ!

Mạnh tỏ ý không tin, nhưng nóng ruột quá hỏi lại:

– Đâu ông thử hỏi xem VN trong 10 năm tới sẽ ra sao?

Kỹ sư trưởng bấm máy. Máy in ra mấy chục trang báo cáo về VN 10 năm tới. Kỹ sư trưởng cầm xấp giấy lên đưa cho Mạnh và nói:

– Đó! Ông đọc thử xem

Mạnh cầm xấp giấy lật qua lật lại rồi lắc đầu:

– Chết mẹ! Đọc không được! Toàn chữ Tàu không thôi!

Sưu tầm từ phần comment của Talawas Vũ Trà My  trên

http://www.talawas.org/?p=19759

Advertisements

Posted in Chuyện vui | Leave a Comment »

Diễu binh Giải phóng miền Nam

Posted by expressvnn on May 3, 2010

Xe chỉ huy mở đầu cuộc diễu binh

Chiến sĩ Trung đoàn Gia Định diễu binh qua lễ đài


Binh chủng không quân diễu hành tại Hà Nội nhân kỷ niệm 35 năm chiến tranh chấm dứt.

Binh sĩ Việt Nam trong cuộc diễu hành tại Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày thứ sáu 30 tháng 4, năm 2010. Việt Nam đánh dấu kỷ niệm 35 năm cuộc chiến tranh với việc tái dựng hình ảnh xe tăng và bộ đội tiến vào Dinh Độc Lập

Thiếu sinh quân

Phần diễu binh của các quân đoàn tham gia giải phóng Sài Gòn

Lực lượng vũ trang các quận, huyện

Posted in Chính trị, Lịch sử, Quân sự | 1 Comment »

Báo động thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc!

Posted by expressvnn on April 22, 2010

Báo động thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc VIT – Quá trình chuyển hóa từ “thức ăn nuôi sống con người” sang “độc dược” đã và đang được Trung Quốc tiến hành một cách có hiệu quả trước sự trợ giúp của một số doanh nghiệp kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật vừa và nhỏ Việt Nam.

Việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật vào phát triển nông nghiệp quả thực là điều rất cần thiết, đóng một vai trò quyết định tới năng suất và chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật cần phải thực hiện theo quy định, ở mức cho phép,  thuốc bảo vệ thực vật được nhập vào VN phải nằm trong danh mục thuốc cho phép nhập của Nhà nước.

Điều đáng quan tâm nhất hiện nay, ngoài thuốc nhập từ Trung Quốc trong danh mục thuốc cho phép thì các loại thuốc bảo vệ thực vật độc hại cho môi trường và con người bị Nhà nước cấm sử dụng cũng được nhập lậu chủ yếu từ Trung Quốc.

Với chiến lược “giá rẻ”, nguyên liệu và thành phẩm thuốc bảo vệ thực vật của Trung Quốc đã được nhiều doanh nghiệp kinh doanh thuốc bảo vệ thực vật vừa và nhỏ trong nước đổ xô nhập khẩu nguyên liệu (thực chất là thành phẩm chưa đóng chai) trong các thùng phi đối với thuốc dạng nước rồi về Việt Nam sang chai đóng gói, đưa ra thị trường tiêu thụ. Thuốc dạng bột thì nhập từng bao hay thùng lớn rồi sang thành gói nhỏ.

Giá của những loại thuốc nhập từ Trung Quốc thường rẻ hơn một nửa so với cùng loại có nguồn gốc từ Nhật hay các nước phát triển. Chẳng hạn, Padan của Trung Quốc dạng bột một gói nhỏ giá chỉ 8.000 đồng, trong khi Padan của Nhật đến 16.000 đồng. Thuốc nước Validacine 500 ml của Nhật 18.000 đồng/chai thì của Trung Quốc 16.000 đồng. Cho nên các sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật của Trung Quốc hiện đang tràn ngập trên thị trường Việt Nam với nhiều chủng loại khác nhau.

Những loại thuốc bảo vệ thực vật mà Trung Quốc tuôn sang Việt Nam qua đường nhập lậu được đánh giá có nhiều điểm mạnh như: giá cực rẻ, có độ độc hại nguy hiểm, có tác dụng gây độc hại mạnh cho môi trường và con người. Đặc biệt tại thị trường Việt Nam hiện nay đang trôi nổi một số loại thuốc trừ sâu đặc biệt nguy hiểm cho sức khỏe con người như: Thuốc Cypermethrin,  Propiconazole và Fipronil là những loại thuốc có thể gây ung thư cao.

Với ưu điểm giá rẻ, đã tạo cơ hội cho người nông dân mua nhiều hơn, phun nhiều hơn cho hoa màu xanh tốt hơn. Dẫn tới các sản phẩm nông nghiệp có tồn dư lượng thuốc trừ sâu quá mức cho phép. Bên cạnh đó, các chủ cửa hàng kinh doanh lại tiếp tục lạm dụng nhiều thuốc trừ sâu để bảo quản, tăng độ “bắt mắt” cho sản phẩm. Theo cơ quan chuyên môn, khi ăn phải rau quả có dư lượng thuốc trừ sâu sẽ ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ, nguy cơ bị ngộ độc cấp tính là điều khó tránh khỏi.

Theo đánh giá của Hệ thống hành động chống thuốc trừ sâu (viết tắt PAN), Một số loại thuốc trừ sâu có thành phần bị cấm ở Âu – Mỹ đang được sử dụng tại nhiều nước châu Á, trong đó có Việt Nam, “ở mức độ không thể chấp nhận được”. Trong lần thực hiện chương trình nghiên cứu tại xã Vĩnh Hanh, huyện Châu Thành (tỉnh An Giang), PAN cho thấy 28% số nông dân tại An Giang và 60% số nông dân tại Nam Định đã gặp những vấn đề về sức khỏe liên quan đến thuốc trừ sâu sau khi phun xịt hoặc sống gần nơi có thuốc trừ sâu. Những dấu hiệu sức khỏe nông dân thường gặp là nhức đầu, choáng, nổi mẩn ngứa, mệt, đau nhức người…

Những nghiên cứu trong vài năm gần đây tại Việt Nam cũng đưa ra các số liệu đáng quan ngại. Vào năm 2002, từng có 7.170 trường hợp nhiễm độc thuốc trừ sâu được ghi nhận tại Việt Nam (báo cáo của WHO năm 2005).

Kết quả xét nghiệm máu ngẫu nhiên của 190 nông dân ở khu vực ĐBSCL cho thấy hơn 35% mẫu bị nhiễm thuốc trừ sâu cao và 21% bị nhiễm thường xuyên (báo cáo của Dasgupta năm 2007).

Những sản phẩm thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc quả thực đã và đang trong tình trạng báo động đỏ. Những loại thuốc này không lâu sẽ làm biến đổi môi trường sống của con người, đặc biệt nó có tác dụng vô cùng hữu hiệu cho việc chuyển hóa từ “lương thực” thành “độc dược”. Cách nói này có thể hơi quá, nhưng thực tế đã cho thấy rằng, không ít những nạn nhân bị ngộ độc sau khi chỉ ăn phải 01 quả dưa chuột rất nhỏ, vài lá rau hay 01 quả cam bị dính thuốc bảo vệ thực vật nhập lậu từ Trung Quốc.

//

Thanh Hà

Posted in Báo Động!, Tin Sốc | Leave a Comment »

Ðài Loan chế tạo chiến hạm cao tốc ‘sát thủ’

Posted by expressvnn on April 15, 2010

TAIPEI – Ðài Loan vừa công bố hình ảnh đầu tiên của chiếc chiến hạm tối tân kiểu mới, trang bị phi đạn dùng để diệt hàng không mẫu hạm, mà họ đang chuẩn bị đóng.

Ðược báo chí mệnh danh là “Sát Thủ,” chiến hạm này dự trù võ trang với phi đạn Hsiungfeng III (Hùng Phong 3) do Ðài Loan tự chế, AFP trích dẫn lời tường thuật của nhật báo Apple Daily.


Hình ảnh bằng máy điện toán của chiếc tàu diệt hàng không mẫu hạm mà Ðài Loan đang chuẩn bị đóng vừa được công bố. (Hình: MediaCorpPress, Ltd/AFP)


Hình ảnh làm bằng máy điện toán của con tàu trọng tải 1,000 tấn này được trình bày cho công chúng xem ở Viện Bảo Tàng Quân Sự Taipei. Dự án này vốn được giữ bí mật từ suốt nhiều tháng nay.

“Sát Thủ” có vận tốc 34 dặm/giờ và có khả năng tàng hình không nhìn thấy trên màn ảnh radar.

Tin về chiến hạm mới của Ðài Loan được đưa ra, sau khi Cơ Quan An Ninh Quốc Gia Ðài Loan tiết lộ việc Trung Quốc khởi công chế tạo hàng không mẫu hạm đầu tiên.

Cũng theo AFP, giới phân tích quân sự ở Taipei cho rằng, TQ phải cần đến 10 năm để đóng xong chiếc mẫu hạm.

Vào đầu tuần này, giới chức quốc phòng Hoa Kỳ nói rằng, việc bán 30 trực thăng AH-64D Apache Longbow cho Ðài Loan, tháng 5 mới bước vào giai đoạn cuối. Defense News tường thuật rằng, giới chức Hoa Kỳ và đại diện của Boeing sẽ đến Taipei vào tháng tới để ký kết hợp đồng.

Những trực thăng này vốn được đề nghị bán cho Ðài Loan cách đây tám năm, nhưng Quốc Hội Mỹ đợi mãi đến gần đây mới chịu công bố. Theo Rupert Hammond-Chambers, chủ tịch Hội Ðồng Thương Mãi Mỹ-Ðài, thì phải đến đầu năm 2013 Hoa Kỳ mới giao hết số trực thăng Apache.

Loại trực thăng AH-64D này được biết sẽ trang bị với loại phi đạn không đối không Stinger Block và phi đạn không đối địa AGM-114L Longbow Hellfire. (TP)


Posted in Quân sự, Quân sự các nước, Quốc tế | Leave a Comment »

Tổng thống Nga Medvedev tuyên bố tại Washington: Stalin là tên giết người!

Posted by expressvnn on April 15, 2010

“Các sĩ quan Ba Lan bị sát hại ở Katyn năm 1940, đã bị giết theo lệnh của chính quyền Liên Xô, trong đó có Joseph Stalin” – Tổng thống Nga Dmitry Medvedev cho biết trong một cuộc phỏng vấn của đài truyền hình tiếng Anh, “Russia Today“.Các nhà sử học Ba Lan và các chính trị gia xem tuyên bố này như là một bước tiến tới sự thật về sự kiện cách đây 70 năm.

Cuộc phỏng vấn được ghi âm trong phòng thu của đài truyền hình “Russia Today” tại Washington, nơi Tổng thống Nga Medvedev tham dự Hội nghị thượng đỉnh về an toàn hạt nhân và nội dung của nó cũng đã được đăng trên trang Web của Kremlin.

Stalin – Tên giết người

– “Nếu nói về Stalin và những người làm việc theo chỉ đạo của ông ta, tức là những người lãnh đạo của Liên Xô bấy giờ, thì họ đã thực hiện tội ác giết người. Điều này dễ hiểu và rõ ràng cho tất cả. Họ đã gây tội ác chống lại chính nhân dân của mình trước hết, và trong phạm trù nào đó đối với lịch sử” – Medvedev nói.

Tổng thống Medvedev không đồng ý với ý kiến cho rằng, ở Nga đang có một sự phục hưng chủ nghĩa Stalin. Ngoài ra ông phản đối sự so sánh nước Nga với Liên Xô. – “Có những người thích Stalin và mọi thứ liên đới với ông ta. Thượng đế sẽ phán xét họ. Nhưng trong xã hội trong sự đánh giá Stalin và khoảng thời gian đó, không có sự thay đổi nào được thực hiện” – Tổng thống Nga nhận định.

– “Nga không phải là Liên Xô và đứng đầu nhà nước Nga là những người mà tôi hy vọng, khác hẳn với Stalin và cộng sự của ông ta” – Medvedev nhấn mạnh..

Thảm sát Katyn 1940 – Ảnh: Khai quật năm 1943 – GW

Thảm kịch cho trật tự thế giới

Tổng thống Nga lại một lần nữa tuyên bố rằng, bi kịch tại sân bay Smolensk là “một thảm kịch nghiêm trọng với dân tộc Ba Lan, không những với các gia đình nạn nhân, mà còn là với trật tự thế giới” – “Khi tổng thống chết trong vụ tai nạn, cùng với một phần quan trọng các nhà lãnh đạo, đó là thử thách lớn cho công chúng, cũng như cho quan hệ quốc tế” – Ông nhấn mạnh.

Dmitry Medvedev khẳng định rằng, “chính vì như vậy đã có sự phản ứng của toàn bộ cộng đồng thế giới và của xã hội Nga và đối với thảm kịch này” – “Đây là một tai nạn đau buồn. Có một cái gì đó bí ẩn. Nhưng có những lý do hợp lý, mà phải điều tra và giải thích những gì xảy ra. Vì vậy, nó rất quan trọng” – Ông nói.

Kết thúc chủ nghĩa toàn trị không tên

Theo Giáo sư Ba Lan Jerzy Pomianowski, những lời nói của Tổng thống Nga là “một bước hướng tới sự thật” – “Tuyên bố của Tổng thống Medvedev là một sự phát triển tư tưởng của Thủ tướng Putin, người thừa nhận nhưng đã không đề cập đến tên Stalin, mà nói rằng, tội lỗi về thảm sát Katyn thuộc về Bộ Chính trị Xô viết” – Sử gia cho biết.

– “Những ghi nhận này cho thấy rằng, việc giải trình và làm rõ các tội ác của Stalin và Liên Xô đối với các vụ thảm sát sĩ quan Ba Lan tại Katyn và những nơi khác mà chúng ta vẫn chưa được biết đến, là sự xác nhận các vụ giết người không phải là của của “chủ nghĩa toàn trị” trừu tượng nào đó, mà cụ thể, Stalin và Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Liên Xô” – Giáo sư Pomianowski nhấn mạnh.

– “Điều này có nghĩa rằng người Nga đang đi xa hơn về hướng giải thích một vấn đề nhạy cảm mà các nhà sử học, chính trị gia và các nhà lãnh đạo của chúng ta đã phải chiến đấu rất lâu dài. Tôi vui mừng, vì những lời của Thủ tướng Putin và Tổng thống Medvedev đã không phải là bước lùi, mà thêm một bước về phía trước, chắc chắn sẽ giúp chúng ta đối thoại trong các vấn đề hết sức quan trọng về kinh tế cũng như chính trị” – Giáo sư kết luận.

Việc chuyển đổi ý thức

– “Các nhà lãnh đạo Nga đã nói bấy nhiêu nhưng sẽ bao nhiêu cho phép chuyển đổi nhận thức của xã hội Nga. Có vẻ như nhận thức này đang chuyển đổi nhanh chóng trước mắt của chúng ta” – Phó Trưởng Ban đối ngoại quốc hội Ba Lan Robert Tyszkiewicz nhận xét.

– “Các nhà chức trách Nga đang chịu áp lực từ công chúng Nga muốn biết sự thật về Katyn. (…) Tôi nghĩ rằng, Medvedev cảm thấy không còn có thể phủ nhận sự thật về Katyn được nữa” – Ông nói.

Theo ông Tyszkiewicz, sự kiện bi thảm gây nên cái chết của Tổng thống Ba Lan Lech Kaczynski trong tai nạn máy bay gần Smolensk, đã làm vang lên tiếng nói đòi công khai lịch sử về cuộc thảm sát Katyn ở Nga. – “Chắc chắn sự hy sinh của giới ưu tú Ba Lan trong thảm kịch này không phải là vô ích” – Ông kết luận.

Mở khóa bi kịch?

– “Tôi hy vọng rằng, các nhà chức trách Nga sẽ mở khóa thảm kịch lớn này sau tai nạn máy bay của tổng thống gần Smolensk” – Dân biểu quốc hội Ba Lan Karol Karski nói sau khi nghe Medvedev phát biểu.

Khi được hỏi, nên chăng những lời của Tổng thống Nga phải được phát ra từ Thủ tướng Vladimir Putin trong buổi lễ tại Katyn với sự tham dự của Thủ tướng Ba Lan Donald Tusk (hôm 7/04, hai ngày trước khi tai nạn xảy ra), ông Karski nói: “Chúng ta cần vui mừng trước những điều tốt đẹp và không cần nhấn mạnh tại sao những điều tốt đẹp đó lại không xảy ra sớm hơn”.

Theo ông Karski, Tổng thống Medvedev nói “lớn và rõ ràng” về cái điều mà từ lâu mọi người đã biết và chính quyền Nga và cũng như Liên Xô đã nói tới. – “Thực tế là cuộc thảm sát Katyn được thực hiện bởi Stalin, đã được Liên Xô xác nhận vài tháng trước khi sụp đổ. Tổng thống Nga Boris Yeltsin cũng đã cho biết. Yeltsin đã cung cấp một số tài liệu liên quan đến vụ thảm sát Katyn” – Vị dân biểu nói.

Báo chí Kremlin công bố trong ngày thứ Tư rằng, Tổng thống Dmitry Medvedev sẽ tham dự tang lễ của Tổng thống Lech Kaczynski và Phu nhân Maria vào Chủ nhật.

Nguồn: TVN24 ngày 14/04/2010

Posted in Lịch sử, Tin Sốc | 1 Comment »

Vụ thảm sát Katyn – đâu là nguyên nhân?

Posted by expressvnn on April 15, 2010

Vụ thảm sát Katyn – đâu là nguyên nhân?

Joseph (Józef) Klemens Pilsudski
(5 tháng Chạp năm 1867 – 12 tháng Năm năm 1935)

Bài viết này không có tham vọng viết về vụ thảm sát Katyn, vì khả năng tìm kiếm tài liệu về nó là khó khăn. Nhưng người viết hy vọng sẽ cung cấp được cho các thành viên một số thông tin về mặt lịch sử để có thể tự rút ra được kết luận về một sự kiện – cũng có thể được coi là bi thảm đó.

Trên thực tế, khó có thể viết được về vấn đề này mà không dông dài một chút về những vấn đề trong lịch sử quan hệ quốc tế, nhất là trong thời gian giữa hai cuộc Đại chiến thế giới. Đó là một thời kỳ có thể nói là phức tạp nhất trong quan hệ quốc tế. Mọi mối quan hệ được hình thành trong giai đoạn này đều nhằm đến không chỉ một cái đích, mà là nhiều mục tiêu, do đó nhiều khi có thể được giải thích và đánh giá bằng những cái nhìn khác nhau, và cũng phụ thuộc nhiều vào cả các nhà chép sử nữa.

Cần phải nhìn nhận thời gian này trong lịch sử châu Âu nói riêng và lịch sử thế giới nói chung, là thời kỳ ngoài những nghi kỵ, những âm mưu quân phiệt hóa nhằm giành lại đất đai, còn là những cố gắng để có được một nền an ninh tập thể, được đánh dầu bằng sự thành lập của Hội quốc liên (thành lập ngày 10 tháng Giêng năm 1920), tổ chức có thể nói là tiền thân của Liên Hiệp quốc ngày nay.

1 – Nước Balan sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Những mối quan hệ và những cuộc xung đột với nước Nga Xô-viết.

Chúng ta quay lại với nước Nga thời kỳ sau cuộc Cách mạng tháng Mười. Nước Nga bước ra được khỏi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất với đầy thương tích, chấm dứt chiến tranh với Đức bằng Hiệp ước Brext – Litôpxcơ, mà những thiệt thòi được giành cho Nga là chủ yếu. Thời kỳ này được xem như là thời kỳ nổi bật của chính sách can thiệp của các nước phương Tây, chủ yếu là nước Anh, vào nội bộ các nước khác trong đó có nước Nga. Xung quanh nước Nga còn rất nhiều thù trong giặc ngoài, như những bọn bạch vệ hoạt động không chỉ như những toán phỉ mà còn là những đội quân lớn, có tổ chức như Côntsắc, Đênikin – Vrăngghen… và cả những mối quan hệ quốc tế mà đế chế Nga Sa hoàng để lại.

Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất kết thúc với hiệp ước Véc-xay, trong đó có đề cập đến vấn đề quan trọng là tái thành lập nước Balan, mà nóng bỏng nhất là vấn đề những đường biên giới của nước Balan mới. Nước Balan, trong cuộc đại chiến thế giới lần thứ nhất cũng là một trong những chiến trường chính và bị chiến tranh tàn phá. Sau Cách mạng tháng Mười, nước Nga Xô-viết đã tuyên bố từ bỏ quyền của Đế chế Nga đối với Balan và công nhận nền độc lập của nước Balan ngày 29 tháng Tám năm 1918, tức là chưa đầy một năm sau Cách mạng.

Một vị tướng người Balan, Joseph (Józef) Pilsudski (5 tháng Chạp năm 1867 – 12 tháng Năm năm 1935) đã tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Balan vào ngày 22 tháng Mười một năm 1918. Trước đó, đến trước tháng Bảy năm 1917 ông ta đã chỉ huy “Quân đoàn Balan” chống lại người Nga. Trên đất nước Balan còn tồn tại “Ủy ban quốc gia Balan”, được các nước đồng minh Anh – Pháp – Mỹ đỡ đầu, Ủy ban này bất hòa với tướng Pilsudski. Nhân tiện cần phải nói thêm, lúc này “dưới trướng” của ông ta có một nhân vật, sau này sẽ góp phần quan trọng vào câu chuyện của chúng ta: Đại tá Józef Beck, chánh văn phòng nội các của Pilsudski.

Cuối năm 1918, đầu năm 1919, nước Balan phải chiến đấu chống lại người Đức, cho đến khi nước Đức thua hẳn, buộc phải ngừng chiến trước sức ép của các nước đồng minh vào ngày 16 tháng Hai năm 1918. Tuy nhiên, nước Balan non trẻ không định dừng lại ở đó. Ở phía đông, họ đánh nhau với Ucraina và chiếm được thành phố Lvov. Cuộc chiến đấu này của họ khá thắng lợi. Liên minh các nước đồng minh thành lập một Ủy ban do một ông tướng người Nam Phi làm chủ tịch, ông Botha, đã không thuyết phục được người Balan ngừng chiến. Kết quả, người Balan còn chiếm thêm được toàn bộ vùng đông Galicie.

Ngày 27 tháng Năm năm 1919, Hội nghị Paris của các nước Đồng minh đã ra tuyên bố sẽ cắt đường tiếp tế cho Balan nếu tiếp tục phiêu lưu quân sự.

Ở phía bắc, không hiểu vì những lý do gì mà người Balan vẫn tiếp tục đánh nhau với người Nga, và tháng Năm năm 1919, họ chiếm được đường biên giới kéo dài đến tận thủ đô Minxcơ của xứ Bạch Nga. Ngày 22 tháng Chạp năm 1919, người Bôn-sê-vích đề nghị ngừng chiến, công nhận nền độc lập hoàn toàn của Balan và cam kết không vượt qua biên giới mà họ đã vạch ra trước đây. Cũng trong tháng này, các nước đồng minh thỏa thuận với Balan về lãnh thổ của nước này: đường biên giới sẽ đi qua Grốdnô, Vôlốpca, Nêmurốp, Brext – Litôpxcơ và phía đông Przemysl. Đường biên giới này được gọi là “Đường biên giới Curzon”, theo tên của ngoại trưởng Anh lúc bấy giờ.

Người Balan đồng thời không chấp nhận cả hai đề nghị của hai phía. Hầu hết những người Balan đều muốn có được đường biên giới năm 1772 nghĩa là chiếm toàn bộ nước Ucraina. Ngày 25 tháng Tư năm 1920, họ lại tấn công vào quân Nga Xô-viết. Họ thu được những thắng lợi bước đầu, ngày 6 tháng Năm họ chiếm thủ đô Kiép của Ucraina. Nhưng họ bị Hồng quân Xô-viết dưới sự chỉ huy của hai Nguyên soái Tukhachépxki và Buđionnưi nhanh chóng đẩy lùi. Tháng Bảy, Hồng quân chiếm lại được Minxcơ, Vilna, Grốdnô, Brext – Litôpxcơ. Hồng quân còn cắt đứt đường sắt Vác-sa-va – Đăng-dích, trong khi nước Đức và Áo từ chối không cho vũ khí đạn dược đi qua nước mình. Balan, do chính sách hiếu chiến của mình, lâm nguy.

Đối với nước Anh, thì Balan đã thất bại, và người Anh chơi một con bài hai mặt. Một mặt, họ đề nghị Hồng quân ngừng bắn, dừng lại cách Vác-sa-va 50 ki-lô-mét. Mặt khác, họ yêu cầu Balan chấp nhận cái gọi là “Đường biên giới Curzon”. Nhưng cả Nga lẫn Balan đều bác bỏ vai trò trung gian của người Anh. Tuy nhiên, nếu bây giờ đánh giá lại thì người Nga đã bỏ qua một cơ hội hiếm có, vì nếu nắm được chính sách này của Anh và thi hành thắng lợi thì đó chính là những tiền đề để thành lập nước Balan cộng sản ngay từ sau chiến tranh thế giới thứ nhất!

Tuy nhiên sau đó người Balan đã có được một thắng lợi ngoạn mục chưa từng có, nhưng với sự giúp đỡ của Pháp. Tổng thống Pháp lúc bầy giờ – ông Alexandre Millerand (sinh tại Paris 10 tháng Hai năm 1859 và chết tại Versailles ngày 6 tháng Tư năm 1943) – cử sang Balan tướng Weygand, cùng với sự giúp đỡ nhiều vũ khí, đạn dược. Người Balan phản công và đẩy lùi được Hồng quân 400 ki-lô-mét về phía đông. Các cuộc hòa đàm đang được đặt ra bị cắt đứt, không còn vấn đề “Đường biên giới Curzon”. Ngày 25 tháng Chín năm 1920, Ủy ban hành pháp trung ương Xô-viết toàn Nga đã từ bỏ các điều kiện đặt ra cho Balan trước đây và, từ tháng Tám họ đã bắt đầu những cuộc thương lượng mới với người Balan. Ngày 12 tháng Mười năm 1920, các hiệp định hòa bình sơ bộ đã được ký, đường biên giới phía đông của Balan nằm cách “Đường biên giới Curzon” 150 ki-lô-mét về phía đông, nghĩa là bao gồm cả những vùng đất của người Ucraina và Bêlôruxia. Các hiệp ước sơ bộ này trở thành Hiệp ước hòa bình vĩnh viễn Riga ngày 12 tháng Ba năm 1921. Đồng thời người Balan còn thu được một thắng lợi nữa, là đạt được một liên minh chiến lược với nước Pháp bằng hiệp ước ký tháng Giêng năm 1921. Về phía Pháp, là có được một liên minh chống Đức, và có lẽ, cả nước Nga Xô-viết nữa.

Kết luận: như vậy, sau Thế chiến thứ nhất, nước Balan đã giành được độc lập, cái đó xuất phát từ sự suy yếu của nước Nga, và người kế thừa là những người Bôn-sê-vích thì không đủ mạnh để thi hành chính sách quốc tế sô-vanh, tự từ bỏ quyền đế chế đối với nước các nước thuộc địa Sa hoàng cũ. Thứ hai, đó cũng chính do họ còn yếu, thời kỳ năm 1920 là thời kỳ Hồng quân phải thanh toán Đênikin, Côntsắc… do đó việc Balan có được sự ủng hộ quân sự của Pháp đã thu được thắng lợi. Thời kỳ này chấm dứt bằng việc Balan chiếm được đất của người Bạch Nga và Tiểu Nga (Bêlôruxia và Ucraina).

2. Những hiệp ước song phương và đa phương tại châu Âu thời kỳ giữa hai cuộc Đại chiến. Mối quan hệ Xô – Đức.

Thực ra, không thể quy kết cho Xta-lin là đặt quan hệ với Đức quốc xã được, mà ngay từ những năm 1920, khi nước Đức lúc đó chưa có Hit-le cầm quyền, đã đặt quan hệ với Nga Xô-viết và sau này là Liên Xô (trong đoạn này vì có nhiều sự kiện xảy ra trước và sau khi thành lập Liên bang Xô-viết nên tôi tạm viết là Liên Xô, không phân biệt nước Nga Xô-viết hay Liên Xô). Năm 1922 được đánh dấu bằng Hội nghị Gènes, được các nước đồng minh sau đại chiến thế giới 1 tổ chức, đã có nhiều lần nhóm họp không thành công do không mời đại diện Liên Xô (chủ yếu việc không mời này do không muốn thỏa thuận giải quyết nợ nần và chiến phí với người Nga; do những bất đồng Pháp – Anh, do sự xích lại gần nhau Xô – Đức…). Tuy nhiên khi được mời, Liên Xô tham gia với mục đích thuần túy thương mại, đại diện Nga là Chicherin. Hội nghị không đi đến được kết quả đáng kể vì kể cả phía phương Tây và Liên Xô đều không nhượng bộ về những khoản nợ nần (Liên Xô đòi phương Tây bồi thường những thiệt hại do quá trình can thiệp vào cuộc nội chiến, đồng thời phương Tây cũng đòi Liên Xô bồi thường nợ nần sau chiến tranh và nhất là những tài sản đã bị Liên Xô quốc hữu hóa sau Cách mạng).

Tuy nhiên, như một hệ quả của Hội nghị, là đã dẫn đến một kết quả bất ngờ: ngày 16 tháng Tư Chicherin và đại diện Đức Rathenau đã gặp nhau ở Rapallo, gần Gènes và ký kết được với nhau một hiệp ước quan trọng mà sau này người ta gọi là Hiệp ước Rapallo. Theo Hiệp ước này, Đức sẽ không đòi lại những xí nghiệp của tư bản Đức đã bị quốc hữu hóa, với điều kiện là Liên Xô cũng không thỏa mãn những yêu cầu đòi bồi thường của các quốc gia khác (với Liên Xô cái này thì dễ quá). Quan hệ ngoại giao và lãnh sự giữa hai nước được phục hồi, hai bên áp dụng cho nhau chế độ tối huệ quốc trong lãnh sự và thương mại. Bộ trưởng, tức Ủy viên nhân dân ngoại giao Xô-viết thời bấy giờ, ông Pôtemkin đã phát biểu: “Rapallo đã làm thất bại âm mưu của đồng minh về lập mặt trận tư bản thống nhất. Kế hoạch phục hồi châu Âu trên cơ sở gây thiệt hại cho những nước thua trận và cho nước Nga, sẽ sụp đổ”.

Rapallo là sự xóa bỏ vĩnh viễn Hòa ước Brext – Litôpxcơ, chấm dứt việc cô lập Liên Xô về kinh tế và chính trị. Nước Đức, thật bất ngờ, đã là nước phương Tây đầu tiên công nhận Liên Xô. Hiệp ước này chưa phải là hết. Nó được ký kết độc lập với quân đội Đức, nhưng tổng tư lệnh lục quân Đức thời gian đó là tướng Von Seeckt đã ngấm ngầm có những quan hệ bán chính thức với Hồng quân. Những cuộc tiếp xúc đầu tiên bắt đầu từ mùa thu năm 1919, nhưng quan hệ tích cực hơn diễn ra vào các năm 1921, 1922. Người Nga tìm cách sử dụng công nghệ Đức để sản xuất vũ khí, còn người Đức thì “lách luật”, né khỏi Hiệp ước Véc-xay để thử nghiệm những vũ khí mới cần thiết cho tái vũ trang trên đất Nga. Một vài nhà máy vũ khí của Đức được xây dựng trên đất Nga. Từ năm 1924 đến năm 1932, có các trại huẩn luyện xe tăng (ở Kama), máy bay (ở Lipetxcơ), hơi độc (Xaratốp) của Đức được xây dựng trên đất Liên Xô. Quân đội Đức có ở Liên Xô một “trung tâm chỉ huy Mát-xcơ-va” (Zentrale Moskau). Nhưng tất cả những hoạt động này, và cả cái trung tâm này bị triệt tiêu khi bắt đầu thời kỳ Hit-le cầm quyền.

Thời kỳ này còn là thời kỳ hợp tan của hàng loạt những liên minh to nhỏ, đều nhằm mục tiêu hướng tới một nền an ninh tập thể. Từ 1923 đến 1925 là thời kỳ mà sớm hay muộn, các nước phương Tây và cả Nhật Bản, công nhận Liên Xô là một thực thể của pháp luật quốc tế.

Ngày 19 tháng Mười một năm 1925, Đức gia nhập Hội quốc liên, một bước cuối cùng của quá trình biến Đức từ kẻ tội đồ của thế chiến I thành một quốc gia đáng gờm, không bị hạn chế. Thời gian này còn được đánh dấu bằng sự xích lại gần nhau của Đức và Pháp.

3. Hiệp ước Đức – Balan năm 1934.


Józef Beck (4 tháng Mười năm 1894 – 5 tháng Sáu năm 1944)

Sự kiện quan trọng nhất trong câu chuyện của chúng ta có lẽ là việc Hít-le và Đảng quốc xã của y lên cầm quyền. Ngày 30 tháng Giêng năm 1933, Hít-le trở thành Thủ tướng nước Đức. Thời điểm đó Chính phủ của y chỉ có thêm hai đảng viên Đảng quốc xã là Goering và Frick Von Papen là phó Thủ tướng, ngoài ra còn có thêm Von Neurath giữ chức ngoại trưởng. Nhưng nhanh chóng Hít-le đã biến Chính phủ của mình thành Chính phủ độc tài, như chúng ta đã biết.

Thời gian này cũng là thời kỳ của các Hiệp ước an ninh tập thể, hâu như là thất bại, nhằm giảm đi cái vai trò vốn đã không mấy quan trọng của Hội quốc liên. Một trong những ví dụ điển hình là việc Mút-xô-li-ni hô hào ký “Hiệp ước tay tư” giữa Italia, Anh, Pháp và Đức, chủ yếu là nhằm điều chỉnh lại bản đồ châu Âu đang bất lợi cho Italia và Đức. Nhưng vì sự quân phiệt hóa ngày càng rõ nét của hai nước Italia và Đức, đồng thời các Chính phủ Tổng thống Dalalier (Pháp), Thủ tướng Mc Donald (Anh), thì có những lợi ích riêng lẻ khác không hòa đồng được. Giữa Pháp và Balan còn tồn tại Hiệp ước liên minh.

Ngày 19 tháng Mười năm 1934, Đức rút ra khỏi Hội quốc liên, đánh dấu bước đầu sự tan rã của tổ chức này.

Đôi điều về đại tá Beck. Ông sinh ngày 4 tháng Mười năm 1894 tại Vác-sa-va và chết ngày 5 tháng Sáu năm 1944 tại Stăneşti, Rumani. Là quân nhân, sau này là nhà ngoại giao kiêm chính khách, ông đã bỏ nhiều công sức trong việc đưa Balan có một mối quan hệ đối ngoại mềm dẻo giữa hai thế lực là Đức và Liên Xô. Sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, đại tá Beck là ủy viên Tổ chức quân sự Balan được Pilsudski thành lập năm 1914. Trong năm 1924, ông đã hoạt động để Chính phủ của Pilsudski được thành lập có quyền lực trên thực tế. Trong các năm từ 1926 – 1930 Beck làm việc tại Bộ ngoại giao Balan và từ năm 1930 đến 1932, là phó Thủ tướng Balan, kiêm bộ trưởng Ngoại giao từ tháng Mười một năm 1932 và giữ cương vị quan trọng đó trong Chính phủ Balan đến tận khi Chiến tranh thế giới lần thứ 2 bùng nổ. Ở Bộ ngoại giao, ông ta thay chân cho cựu bộ trưởng Zaleski, một người thích các biện pháp phi dân chủ. Tuy nhiên, Beck lại luôn ngờ vực những chính sách của người Pháp, nhất là thái độ không kiên quyết của họ thời Laval.

Một trong những thắng lợi của Đức là việc ký kết một tuyên bố không xâm lược với Balan ngày 26 tháng Giêng năm 1934, có giá trị trong mười năm. Beck, vốn bất bình với “Hiệp ước tay tư” (gạt Balan ra ngoài không có quyền lợi gì), tìm cách cân bằng giữa Đức và Liên Xô, bằng những việc tiếp xúc liên tục với lãnh đạo các nước khác nhau, nhất là các cường quốc. Tháng Tư, và cả vào tháng Chạp năm 1933, ông ta đã bí mật đề nghị với Pháp một chiến dịch ngăn ngừa đánh vào chủ nghĩa Hít-le. Khi bị Pháp từ chối, ông ta quay sang Đức và đề nghị ký với Đức một Hiệp định. Trong năm 1933, có nhiều cuộc đụng độ quân sự nhỏ trong quan hệ Đức – Balan, nhất là khi Balan tăng cường quân đội đồn trú ở bán đảo Westerplatte, trên lãnh thổ Dantzig ngày 6 tháng Ba năm 1933. Ngày 4 tháng Năm năm 1933, Hít-le tuyên bố với báo chí là đã có cuộc họp với công sứ Balan ở Béclin, ông Wysoki, bạn thân của Đại sứ Pháp tại Đức, Francois – Poncet, vì thế bị coi là thân Pháp. Sau đó, Lipski thay Wysoki tại Béclin.

Ngày 16 tháng Mười một năm 1933, Hít-le gặp Lipski, đã có một thông báo rằng hai bên sẽ không sử dụng vũ lực trong mối quan hệ với nhau. Ngày 27 tháng đó, một dự án Hiệp ước hòa bình được bộ trưởng Đức Von Molke trình cho nguyên soái Pilsudski. Ngày 4 tháng Giêng năm 1934, Lipsky trình một bản dự án của Balan trả lời cho dự án của Đức, mà chính những dự thảo dự án này đã được đại tá Beck trong khi đi Genève đã rẽ qua Béclin ngày 13 tháng Giêng và có được những thỏa thuận bí mật với Chính phủ quốc xã. Tại sao những thỏa thuận này cần bí mật? Đó là vì trong nội bộ nước Đức có những thế lực Phổ căm ghét Balan, đồng thời thế lực Balan thân Pháp còn mạnh. Thậm chí ngày 25 tháng Giêng (trước hôm ký Hiệp định một ngày), Lipsky còn tuyên bố với đồng nghiệp Tiệp Khắc tại Đức, ông Mastny rằng không đời nào có chuyện “ác” như vậy. Hòa ước được ký kết, tuyên bố “hai Chính phủ muốn mở đầu một giai đoạn mới trong mối quan hệ chính trị hoàn toàn hòa bình… hai Chính phủ sẽ tham khảo ý kiến của nhau và sẽ bao giờ sử dụng vũ lực trong giải quyết những bất đồng”. Bản tuyên bố có giá trị trong 10 năm, và sẽ không làm thay đổi hiệu lực của các Hiệp ước đã ký trước đây.

Trong nội dung của Hiệp định không hề chống lại nước Pháp, nhưng rõ ràng với hoàn cảnh của Balan, thì đó là một việc không khôn khéo. Về danh chính ngôn thuận, thì đó là việc làm không “fair play” với đồng minh Pháp, dù là Pháp còn chưa quyết đoán được chính sách với Đức. Đại sứ Pháp tại Đức Francois – Poncet nói: “Thái độ của Balan đối với chúng tôi và nhất là thái độ của Đại tá Beck, bộ trưởng ngoại giao Balan, không phải là thái độ của một người bạn, mà là của kẻ thù đích thực”.

Như vậy bằng Hiệp ước này, Balan đã đặt một chân vào thảm họa diệt vong.

4 – Liên Xô trên trường quốc tế trong những năm 1930. Nỗ lực của nước Pháp trong ngăn chặn chiến tranh.


Thủ tướng Pháp Louis Barthou (25 tháng Tám năm 1862 – 9 tháng Mười năm 1934)

Trước năm 1930, quan hệ Pháp – Xô rất xấu (cũng có thể do Hiệp ước Đức – Xô tháng Tư năm 1926?). Nhưng từ năm đó trở đi, quan hệ có được cải thiện hơn. Ngày 29 tháng Mười một năm 1932, Hiệp ước tương tự đã được ký kết giữa hai nước Pháp – Xô. Từ đó trở đi, mối quan hệ giữa hai nước tốt hơn nhiều, nhất là những giao lưu trao đổi về quân sự.

Xin quay một chút sang nước Pháp. Để đối phó với sự nguy hiểm ngày càng tăng từ phía nước Đức quốc xã, mà nước Pháp cũng đang cố gắng có được những hành động tăng cường an ninh tập thể, vai trò chủ yếu thuộc về Thủ tướng thứ 78 của nền Cộng hòa, Louis Barthou (25 tháng Tám năm 1862 – 9 tháng Mười năm 1934). Ông ta đề ra một kế hoạch dự định thực hiện trong xuân – hè năm 1934. Theo kế hoạch, nước Pháp cần hướng mạnh về phía Đông. Không trông cậy gì được vào chính sách biệt lập của nước Anh, ông ta định quay sang Italia và Liên Xô. Nhưng ông ta, về đối nội, là người chống cộng lại vẫn tin tưởng ở Hồng quân hơn là quân đội Italia. Ngày 16 tháng Năm năm 1934, ông có cuộc gặp quan trọng với Ủy viên nhân dân ngoại giao Xô-viết Lítvinốp tại Genève. Tháng 6, ông thăm một số nước Đông Âu và Hoa Kỳ. Ngày 2 tháng Sáu, ông lại gặp lại Lítvinốp và trình bày kế hoạch “Hiệp ước phương Đông” chứa đựng những nội dung đi đến một liên minh quân sự Pháp – Xô thực sự. Đáng tiếc, những nỗ lực của ông chỉ đưa đến một kết quả duy nhất là việc ủng hộ mạnh mẽ cho Liên Xô gia nhập Hội quốc liên ngày 18 tháng Chín năm 1934, với 32/42 phiếu bầu. Ngày 9 tháng Mười năm đó, xảy ra một sự kiện nghiêm trọng. Thủ tướng Pháp Louis Barthou tiếp vua Alexandr của Nam Tư tại Marseille và cả hai cùng bị tổ chức khủng bố người Crôatia thân quốc xã “Oustacha” ám sát. Chính cái chết của Barthou đã chấm dứt những cố gắng của nước Pháp trong việc ngăn ngừa cuộc chiến tranh đến đã quá gần. Người kế vị ngai vàng Nam Tư, hoàng tử Paul, nhanh chóng xích lại gần nước Đức phát-xít. Thủ tướng mới của Pháp, Pièrre Laval (lên từ ghế ngoại trưởng thay Barthou) làm ra vẻ tiếp tục chính sách của ông, nhưng trên thực tế, là người có lập trường xoa dịu và hòa hoãn với phát-xít. Paul – Boncour nói: “Tôi nghĩ rằng không phải ngay một lúc ông ta đã đi theo tiến trình sẽ đưa ông ta đến các lập trường sau này. Thiên về kinh nghiệm chủ nghĩa hơn là lý thuyết giáo điều, ông ta chuyển biến dần theo hướng khác, tiếp tục dung hòa Hội quốc liên và các liên minh phương Đông của Pháp lúc đấy đang được đưa vào Hội. Ngay khi việc trừng phạt đang rộ lên ông ta vẫn còn tỏ ra bái phục Hội quốc liên và do đó gây ảo tưởng rằng ông ta vẫn tiếp tục những chính sách cũ”. Trong khi Barthou muốn thành lập một liên minh thực tế và có hiệu quả và khi cần thiết đã biết chống lại ảnh hưởng của Anh thì Laval lại thi hành chính sách hòa giải với tất cả mọi người, bằng một loạt thỏa hiệp ít nhiều bị khập khiễng. “Thay vì một chính sách lớn, với Laval người ta bước vào thời đại của những cuộc mặc cả ngắn hạn”. Đáng tiếc, điều này quá đúng và, ngay cả Liên Xô trong thời kỳ đó cho đến trước chiến tranh, cũng đã rơi vào những cuộc mặc cả ngắn hạn như thế.

5 – Hội nghị Munich và sự thôn tính nước Tiệp Khắc


Bản đồ vùng Xuyđét (Sudètes)

Sở dĩ tại sao phải nói một chút về giai đoạn này, mặc dù nó không liên quan gì đến sự kiện Katyn, nhưng dù sao cũng góp phần làm rõ hơn những âm mưu và nước cờ của nước Đức phát-xít.

Cho đến giữa năm 1937, nổi lên vấn đề kiều dân Đức ở Xuyđét (Sudètes), đông khoảng 3.200.000 người. Việc sáp nhập vùng đất này thuộc nước Tiệp Khắc được Hítle đặt lên hàng đầu trong chương trình của nước Đức. Thực chất, kiều dân Đức ở đây chưa hề có ý định muốn được gắn bó với đế chế Đức cho đến cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất. Họ chung sống hòa thuận với cư dân người Séc và Xlôvakia. Vùng này Chính phủ Tiệp Khắc đã xây dựng nhiều cơ sở công nghiệp quốc phòng quan trọng và biến vùng này trở thành một vùng công nghiệp hóa cao của đất nước.

Nhưng tình thế năm 1937 lại khác. Đảng Sudèten Deusche Partei (Đảng của người Đức ở Xuyđét) do Konrad Henlein cầm đầu, nắm 70% ghế trong Quốc hội của vùng, lại có xu hướng thân quốc xã rõ rệt. Việc thành lập chính quyền tự trị, trong đó những công chức biết tiếng Đức được xúc tiến. Ghi nhận quyền lựa chọn sinh sống dưới chính thể Tiệp Khắc hay Đế chế Đức của kiều dân Đức.

Một loạt hoạt động quân sự, chủ yếu là tổng động viên và tập trung quân ở biên giới hai nước Đức – Tiệp diễn ra trong năm đó và đầu năm sau, phía quân đội Tiệp là đêm ngày 20, rạng sáng ngày 21 tháng Năm năm 1938. Người ta đặt câu hỏi phải chăng điều này là do lời khuyên của phía Liên Xô, lúc đó cũng rất muốn giúp đỡ nước Tiệp để chống lại nước Đức phát-xít đang muốn bành trướng?

Chính phủ Anh cũng đã có những can thiệp mạnh mẽ do đó Hítle đã không hành động dù hắn ta rất bực bội. Còn Chính phủ Pháp của Daladier (ngoại trưởng Pháp giai đoạn này là Georges – Bonnet) thì có xu hướng ôn hòa.

Việc thôn tính vùng Xuyđét, đối với Đức quốc xã, chỉ còn là ngày một ngày hai.

Thông tin quan trọng trong phần này, là thái độ của Liên Xô như thế nào? Ngày 12 tháng Năm năm 1938, ngoại trưởng Pháp Bonnet xin gặp Bộ trưởng dân ủy ngoại giao Liên Xô Lítvinốp ở Giơnevơ (Genève). Chính phủ Liên Xô tuyên bố sẵn sàng giúp đỡ nước Tiệp Khắc nếu như Balan và Rumani đồng ý để cho Hồng quân Liên Xô đi qua lãnh thổ của mình. Nhưng Balan đang thi hành một chính sách ngoại giao hết sức liều mạng và nguy hiểm, là chọn phương án đối đầu cả Liên Xô và Đức, trong khi vẫn đang hy vọng vào sự bảo trợ của nước Pháp, là nước mà dần dần người ta sẽ thấy, bảo vệ chính mình còn chưa xong. Quan trọng hơn cả là họ đang bất hòa với Tiệp Khắc. Còn Rumani, vẫn đang lo lắng về vùng Bétxarabi (năm 1940 bị cắt về lãnh thổ Mônđavi xô-viết). Trên thực tế, nước Rumani có thể cho quân Liên Xô đi qua nhưng họ chỉ có duy nhất một con đường sắt rất tồi, và họ cho phép máy bay Liên Xô bay qua vùng trời của mình sang Tiệp. Trên thực tế, Liên Xô biết rõ tình thế đó và rõ ràng đây là nước cờ “tuyên bố nhưng không hành động” khá rõ nét. Tuy nhiên trên thực tế, trong thời gian diễn ra Hội nghị Munich đã có 200 máy bay chiến đấu Liên Xô có mặt trên đất Tiệp Khắc, cũng không thể phủ nhận hoàn toàn những hành động cụ thể của Chính phủ Liên Xô trong tình thế ai cũng phải đi trên dây trong giai đoạn này.

Ngày 23 tháng Chín năm 1938, Phó Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô Pôtemkin thông báo cho phía Balan rằng, Liên Xô sẽ hủy bỏ Hiệp ước không xâm lược với Balan đã được ký ngày 25 tháng Bảy năm 1932, nếu như Balan xâm lược Tiệp Khắc (Ý đồ này đã trở nên hết sức rõ rệt). Cũng trong thời gian này lại diễn ra thỏa hiệp giữa một bên là Đức, bên kia là Anh – Pháp theo đó, bất cứ một lãnh thổ nào có trên 50% dân cư nói tiếng Đức sẽ được sáp nhập vào Đức! Ngày 21 tháng Chín năm 1938, Anh và Pháp thông báo với Tiệp là nếu có ý định kháng cự, họ sẽ không được ai ủng hộ cả. Đây là một sự bội ước ghê gớm của Chính phủ hai nước, nhất là Pháp, với thành viên liên minh của mình.


Hội nghị Munich

Và thế là với những diễn biến như trên, ngày 29 tháng Chín năm 1938, đã diễn ra Hội nghị Muních, với sự tham gia của Đức, Pháp, Anh, Italia. Tệ hại nhất là sự toàn vẹn lãnh thổ của nước Tiệp Khắc đã bị hy sinh vì “hòa bình”. Đồng thời, chính Hội nghị này đã cho thấy manh nha âm mưu “xử lý” Hunggari và nhất là Balan – đối tượng nghiên cứu chính của chúng ta ở đây. Trong quyết định của mình, hội nghị còn có một phụ lục nữa liên quan đến những kiều dân Balan và Hung ở Tiệp, sẽ liên quan sâu hơn đến những hành động của Balan sau này: “Vấn đề dân tộc thiểu số Balan và Hung ở Tiệp Khắc, nếu không được giải quyết bằng hiệp định giữa các Chính phủ hữu quan trong vòng 3 tháng, thì sẽ là mục tiêu cho một cuộc họp khác của Chính phủ 4 cường quốc đang họp cuộc họp hôm nay”.

6 – Những cố gắng ngăn chặn cuộc chiến tranh đã ở ngay ngưỡng cửa


Bản đồ vùng Silésie

Ngày 7 tháng Mười một năm 1938, bí thư thứ ba sứ quán Đức tại Paris Ernst Von Rath bị Herschel Grynspan một người Đức Do thái gốc Balan ám sát chết. Sự kiện này chính là cái cớ cho làn sóng bài Do thái và sau đó là thái độ thù địch với Balan ở nước Đức.

Sau hội nghị Munich, Liên Xô hết sức chống đối Pháp (có tin đồn rằng chính Liên Xô đã ủy quyền cho Daladier đại diện tại Hội nghị, nhưng tờ Pravda đã đưa ra cải chính tin đồn này). Liên Xô cho rằng Pháp đã quá tệ bạc và bội ước. Liên Xô đang làm cho người ta tin rằng, chính họ chứ không có ai cả, tin vào các biện pháp an ninh tập thể đã được vạch ra trước đó mấy năm bởi một người Pháp (Thủ tướng thứ 78 của nền Cộng hòa, Louis Barthou).

Sau Hội nghị Muních, là thời gian tan rã của nước Tiệp Khắc. Xuyđét bị sáp nhập vào Đức. Nhiều vùng lãnh thổ phải tổ chức trưng cầu dân ý về việc ở lại với Tiệp hay bị sáp nhập. Nhân cơ hội này, Đại tá Beck muốn sáp nhập vùng Silésie de Teschen vào Balan. Từ năm 1937, họ đã bãi bỏ hiệp ước không xâm lược ký với Tiệp năm 1924, và sau 6 tháng từ khi bãi bỏ, Hiệp ước cho phép họ tự do hành động. Họ cho rằng Tiệp Khắc đã “bạc đãi” dân Balan ở vùng này.

Ngày 19 tháng Chín năm 1938, Beck trình bày ý định của Balan đối với vùng Teschen.

Hai ngày sau, ngày 21, Chính phủ Balan chính thức bãi bỏ hiệp định Balan – Tiệp về người thiểu số năm 1925 và chính thức đòi lại vùng Teschen. Quân đoàn Silésie được thành lập ở Vácxava vì mục đích chiếm vùng đất này.

Liên Xô lên tiếng, dọa sẽ xóa bỏ Hiệp ước không xâm lược năm 1932 đối với Balan. Pháp cũng dậm dọa Balan. Nhưng thế đã quyết, Balan kiên quyết đứng về phía Đức. Sau hội nghị Munich mà Beck không được mời dự, cho là mình bị xỉ nhục và đã gửi cho Chính phủ các nước tham gia hội nghị một tối hậu thư rất thô lỗ vào ngày 30 tháng Chín, các yêu sách về lãnh thổ của Balan “phải” được phía Tiệp Khắc chấp thuận trước ngày 1 tháng Mười, và nước Tiệp Khắc cô độc, đã phải chấp nhận. Từ 1 giờ sáng ngày hôm đó, quân Balan vượt sông Olza tràn vào lãnh thổ Teschen của nước Tiệp, chiếm được 1000 ki-lô-mét vuông với số dân 230.000 người.

Ghê gớm hơn, Balan tiếp tục muốn chiếm lãnh thổ Ucraina vùng nam Cácpát, vì cho rằng vùng này có những ổ hoạt động có ảnh hưởng đến phong trào chống chính quyền của cộng đồng người Ucraina ở Balan. Hítle đã không đồng ý với mưu đồ này nên Beck tạm dừng lại.

Như vậy, sau hội nghị Munich, đại tá Beck đã tưởng rằng Balan “đã là một cường quốc” có thể tham gia vào thôn tính nước Tiệp Khắc, và thi hành chính sách thân, gần như là chư hầu với quốc xã, đẩy mình vào thế thù địch với Pháp và nhất là với Liên Xô.

Trong cuộc gặp giữa ngoại trưởng Von Ribbentrop với đại sứ Balan tại Đức Lipsky, phía Đức vẫn nhấn mạnh tính bền vững của hiệp ước không xâm lược lẫn nhau giữa hai nước Đức – Balan.

Nhưng cũng chính thời gian này mà âm mưu của nước Đức quốc xã đối với Balan đã thể hiện khá rõ nét.

Trong tháng Mười một, hàng loạt người Balan nói tiếng Đức di cư về Đức. Cũng trong tháng này, Đức trục xuất 15.000 người Balan gốc Do thái về Balan.

Từ tháng Mười, Đức đã “nhẹ nhàng” nói về vấn đề thành phố Đăngdích (Dantzig). Ngày 24 tháng Mười, Von Ribbentrop nói với đại sứ Balan tại Đức Lipsky rằng thành phố Đăngdích tự do cần phải được sáp nhập về Đức. Đức còn muốn xây dựng một tuyến đường sắt cao tốc xuyên qua đất Balan đến đó và tuyến đường sắt này phải được hưởng quy chế tài phán lãnh sự của Đức. Ngược lại Balan sẽ có một cảng miễn thuế tại Đăngdích và được xây dựng một tuyến đường sắt tương tự của mình đến thành phố này. Bù lại, hai bên sẽ kéo dài hiệp ước không xâm phạm lẫn nhau ký năm 1934 không phải là 10 năm nữa mà là 25 năm. Đạt được như vậy, quan hệ Đức – Balan sẽ tốt đẹp y như quan hệ Đức – Italia!

Lipsky vội vàng về nước báo cáo với Beck, ông ta hứa sẽ xem xét nhưng kiên quyết chống lại đề nghị sáp nhập Đăngdích vào Đức. Chính quyền Đức như đã nói, hết sức “nhẹ nhàng” và không đặt lại vấn đề nữa. Có lẽ với Đức, mọi chuyện của đất nước Balan gần như đã an bài.

Nhưng Beck hình như cũng đã nhận ra lờ mờ tình thế của đất nước, và tìm cách xích lại gần Liên Xô. Tháng Mười năm 1938, đại sứ Balan tại Mátxcơva ông Grzybowsky đề nghị ký kết một hiệp ước hữu nghị mới trên cơ sở hiệp ước không xâm lược được ký năm 1932. Ngày 24 tháng Mười một hiệp ước được ký kết, công bố hai ngày sau đó. Hai bên tuyên bố tán thành việc trao đổi thương mại. Các hiệp định thương mại được đàm phán và ký kết vào ngày 10 tháng Hai năm 1939.

Ngày 5 tháng Giêng năm 1939, đại tá Beck được Hítle mời đến Berchtesgaden. Trong cuộc hội đàm, hai bên đã nhấn mạnh sự thù địch chung chống Liên Xô. Nhưng đồng thời Hítle lại nêu vấn đề Đăngdích và đường sắt hành lang, đồng hời hứa hẹn là sẽ không bao giờ giải quyết vấn đề theo hướng “việc đã rồi”. Khi về, Beck thỏa mãn được việc liên minh với Đức để chống Liên Xô, nhưng lại bị đẩy vào thế phải “quyết” về thành phố Đăngdích. Ông ta không thổ lộ gì với Pháp dù giữa họ còn tồn tại một liên minh.

Sau chuyện này, Léon Noël (1888 – 1987, Đại sứ Pháp tại Balan từ 1935 đến 1940, sau này tham gia Chính phủ kháng chiến của Thống chế Charles De Gaulle) đã nói: “Không có gì mù quáng hơn điều mà Beck đã làm!”.

Cuối tháng Giêng, ngoại trưởng Đức Von Ribbentrop thăm Balan, là chuyến thăm chính thức đầu tiên (và cũng là cuối cùng) của một chính khách cao cấp quốc xã tới Balan. Hắn ta khẳng định tình hữu nghị giữa hai nước và tính bền vững của những gì hai bên đã ký kết. Đồng thời hắn cũng thăm dò Beck xem khả năng cùng đánh Liên Xô, với mục tiêu rõ rệt là chiếm Ucraina, có được không? Vì đang ở trong tình thế “Đăngdích”, nên Beck đã lịch sự từ chối cả hai vấn đề trên. Ông ta vẫn chưa hiểu tất cả chỉ là đòn gió của phía Đức mà thôi.

Ngày 15 tháng Ba, nước Tiệp Khắc hoàn toàn tan rã, vùng Rutheni nam Cácpát bị sáp nhập vào Hunggari, vùng Memel bị sáp nhập tiếp vào Đức, làm cho tình thế nước Balan trở nên nguy hiểm hơn bao giờ hết. Nguy hiểm xuất hiện rõ nhất là trong cuộc hội đàm diễn ra vào các ngày 26 và 27 tháng Ba năm 1939 giữa Lipsky và Von Ribbentrop, Balan “bị buộc” phải gia nhập vào liên minh chống Liên Xô, đồng thời những yêu sách về Đăngdích được đặt lại lên bàn với áp lực ngày càng tăng. Ngày 29 tháng Ba, một cuộc biểu dương lực lượng của Hải quân quốc xã được tiến hành tại biển Bantích. Ngày 28 tháng Ba, Beck tuyên bố sẵn sàng dùng chiến tranh chứ không nhượng bộ về Đăngdích, nhưng ngược lại ông ta lại đánh tiếng với Đức rằng, chính ông ta chứ không phải ai khác, mới có thể duy trì tình thân hữu của Balan với nước Đức quốc xã bất chấp dư luận nhân dân Balan trong nước.

Đại tá Beck chỉ đạo vội vã tìm kiếm sự ủng hộ từ Anh và Pháp, và đã đạt được những tuyên bố từ phía hai “ông kẹ” này. Nhưng chính điều đó lại tạo cớ cho Đức. Quốc vụ khanh Đức Von Weizsacker đã tuyên bố những thỏa thuận Anh – Balan ngày 6 tháng Tư là trái với những gì Balan đã ký kết với Đức!

Trong giai đoạn này, phải nói đến một người có những cố gắng rất lớn cho hòa bình. Người đó không phài là I. Xtalin, mà lại là cố Tổng thống Hoa Kỳ Roosevelt. Ngày 14 tháng Tư, Ông đã đọc một bài diễn văn ở Ủy ban thống nhất liên Mỹ, nói rõ: “Vấn đề đặt ra là trên thực tế cần phải biết liệu nền văn minh của chúng ta có bị lôi kéo vào một cơn lốc bi thảm của chủ nghĩa quân phiệt vô hạn độ được đánh dấu bằng các cuộc chiến tranh định kỳ, hay chúng ta biết duy trì lý tưởng hòa bình, tự do cá nhân và văn minh vốn là nền tảng của cuộc sống chúng ta”. Hai ngày sau ông gửi cho Hítle và Mútxôlini hai bức thư cá nhân, đề nghị họ khẳng định trong 10 năm tới sẽ không xâm lược 29 quốc gia mà ông liệt kê trong thư. Nếu họ đồng ý, ông sẽ có đề nghị tương tự tới 29 quốc gia đó và Hoa Kỳ sẽ tham gia vào việc giải trừ quân bị và việc phân chia nguồn lợi nguyên liệu giữa các quốc gia.

Những động thái này, không được Hítle hoan nghênh. Chính Roosevelt cũng không hy vọng nhiều vào những hành động của mình, mà chỉ nhằm làm cho những nước trong cuộc, ở châu Âu, nhất là Anh và Pháp, nhận rõ âm mưu và thái độ hiếu chiến của Hítle.

Ngày 28 tháng Tư, Hítle đọc trước Quốc hội Đức một bài diễn văn dài, lấy cớ là đã có những cuộc hội đàm Anh – Balan, và sau đó thì nước Đức đã chuẩn bị cho kế hoạch Weiss (được Keitel ký ra lệnh cho quân đội Đức ngày 3 tháng Tư) – kế hoạch đánh chiếm Balan vào ngày 1 tháng Chín năm đó.

Ngày 22 tháng Năm, Đức và Italia ký Hiệp ước – được gọi là “Hiệp ước Thép”, làm cơ sở hình thành phe Trục sau này.

Từ đây, những diễn biến của tình hình chỉ là việc ngăn không cho một cuộc Đại chiến thế giới mới không xảy ra quá nhanh mà thôi, dù trên thực tế bên nào cũng hình dung rõ nét về nó lắm rồi.

Cuộc chiến tranh đang đến quá gần làm cho các nước phương Tây cũng như Hítle muốn lôi kéo Liên Xô đứng về phía mình. Cho đến tháng Tám năm 1939 Liên Xô vẫn chưa có được một sự lựa chọn nào cả. Về phần mình, Liên Xô được ngăn cách với nước Đức ở Balan và Rumani, do đó việc tham gia bất cứ một liên minh chống Đức nào, Liên Xô cho là nguy hiểm và chưa cần thiết. Trong khi đó về ý thức hệ, Liên Xô cũng khó có thể gần gũi hơn được với Anh, Pháp… và thấy gần gũi hơn, muốn bảo vệ các nước dân chủ châu Âu như Tiệp Khắc. Ngày 11 tháng Ba năm 1939, trong diễn văn được đọc tại Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô – Mátxcơva, Manuilxki đã tuyên bố: “Kế hoạch của giai cấp tài sản phản động Anh là hy sinh các quốc gia nhỏ bé ở đông nam châu Âu cho phát-xít Đức, hướng Đức sang phía Đông để đánh bại Liên Xô, nhắm lấy chiến tranh phản cách mạng để ngăn chặn sự tiến bộ của chủ nghĩa xã hội và thắng lợi của chủ nghĩa cộng sản ở Liên Xô”. Cho đến nay, cái vế đầu “Kế hoạch của giai cấp tài sản phản động Anh là hy sinh các quốc gia nhỏ bé ở đông nam châu Âu cho phát-xít Đức, hướng Đức sang phía Đông để đánh bại Liên Xô…” đã chứng minh với lịch sử là hoàn toàn đúng đắn. Nhưng nếu Đức thắng Liên Xô, thì điều đó cũng đồng nghĩa với việc Đức chiếm nốt cả nước Anh không mấy khó khăn!

Chính vì hướng về các nước dân chủ, nên ngày 19 tháng Ba, Liên Xô phản đối việc chia cắt làm tan rã nước Tiệp Khắc. Đồng thời Liên Xô bắt đầu đã có các cuộc hội đàm với nước Anh. Liên Xô đề nghị một cuộc hội đàm giữa những nước có liên quan nhất đến tình hình: Liên Xô, Anh, Pháp, Balan, Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng vì nhiều lý do mà đề nghị này không thành công, những lý do này không cần viết ra chúng ta đều đã biết là mỗi nước đều có những vấn đề và cách giải quyết riêng của mình.

Nhìn chung trong lúc dầu sôi lửa bỏng này, nhưng những cố gắng của các bên vẫn rất kỳ lạ và đi theo những chiều hướng khác nhau, như những con kiến cùng kéo một miếng thức ăn, mỗi con đi về một hướng, nhưng lại làm cho tình hình chung đi về cái hướng tàn bạo và khốc liệt: chiến tranh!

Người Anh phản ứng hết sức chậm chạp, ngược lại để trả lời “không!” thì người Xô-viết bao giờ cũng phản ứng hết sức nhanh chóng. Cả hai đều không có những dấu hiệu của thiện chí. Chỉ có người Pháp là vội, vì họ ở sát nách nước Đức. Nếu Đức đánh Balan, có nghĩa là chiến tranh. Mà chiến tranh, có nghĩa là Đức sẽ đánh nước Pháp. Pháp hoàn toàn chấp thuận một liên minh đầy đủ với Liên Xô, nghĩa là một trong hai nước bị đánh thì nước kia sẽ tham chiến. Còn Anh thì chỉ muốn Liên Xô đảm bảo cho trường hợp Balan và Rumani bị xâm lược, chứ không sẵn lòng tham chiến trong trường hợp Liên Xô bị tần công. Liên Xô thì muốn cả Anh và Pháp đều “được như Pháp”. Về phần mình, thật kỳ lạ, nước Balan của đại tá Beck thì phản đối mọi thỏa thuận có Liên Xô tham gia, và hơn nữa không ủng hộ bất cứ thỏa thuận nào bảo đảm cho Rumani. Đến tình thế này rồi, mà ông ta vẫn còn có những suy nghĩ kỳ lạ đến thế!

Ngày 18 tháng Tư, Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô Lítvinốp đề nghị một hiệp ước an ninh tập thể, gồm có 3 định ước: 1- Hiệp định tương trợ và giúp đỡ lẫn nhau giữa 3 nước; 2 – Một thỏa ước quân sự và 3 – Hiệp ước đảm bảo cho các quốc gia nằm giữa biển Bantích và biển Đen. Trong Hiệp ước an ninh này có sự đảm bảo không có sự ký kết các hiệp ước riêng rẽ khác của các nước thành viên. Nhưng đây mới chỉ là đề nghị vì ngay sau đó, Môlôtốp thay Lítvinốp (người luôn hướng về an ninh tập thể) làm Ủy viên nhân dân ngoại giao Liên Xô. Đây là sự kiện làm đình chỉ việc đàm phán ký kết Hiệp ước nói trên và đánh dấu sự thay đổi chính sách của Liên Xô.

Đến đây đã có được những nhượng bộ bước đầu của Anh, nhưng cũng không đi đến đâu vì một số những bất đồng, mà có thể do cố tình tạo ra. Ngày 27 tháng Năm, Anh và Pháp chấp thuận một dự án hiệp ước an ninh tập thể, Anh và Pháp sẽ tham chiến nếu Liên Xô bị xâm lược. Việc đảm bảo sẽ áp dụng với Balan, Rumani, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ và Bỉ. Với các nước vùng Bantích như Estonia, Latvia, Anh muốn ký kết một nghị định thư riêng, nhưng Liên Xô lại khăng khăng đòi đưa những nước đó vào diện được đảm bảo trong cùng Hiệp ước. Đây chính là cái cớ để Liên Xô bác bỏ đề nghị này của nước Anh.

Ngày 1 tháng Bảy, Anh và Pháp lại đưa đề nghị mới, chấp nhận đề nghị của Liên Xô là đưa các nước Bantích vào diện được bảo đảm, có thêm Phần Lan trong số này – nhưng lại đưa thêm vào danh sách Thụy Sỹ và Hà Lan, vốn là hai nước không được Liên Xô chấp thuận ngay từ đầu. Và thế là các cuộc đàm phán lại quay về vạch xuất phát. Ngày 18 tháng Bảy, Anh và Pháp đồng ý bỏ hai nước trên ra khỏi danh sách, nhưng họ lại vấp phải những bất đồng khác, nhất là trong định nghĩa về một cuộc “xâm lược trực tiếp”, là cái cớ để hành động tham chiến sau này cho các quốc gia thành viên hiệp ước. Thế là câu chuyện lại chẳng đâu vào đâu.

Không thành công về Hiệp định chính trị, họ quay ra đàm phán về Hiệp định quân sự. Nhưng vấn đề lớn nhất là Liên Xô cứ khăng khăng trong việc, liệu Balan có cho phép Hồng quân đi qua lãnh thổ của mình hay không? Pháp và Anh lại sa lầy vào việc thuyết phục Balan, mà chúng ta và cả những lãnh đạo Liên Xô đều thừa biết chẳng đời nào Beck đồng ý điều đó. Ngày 21 tháng Tám, Daladier (Thủ tướng Pháp) chỉ thị cho Doumenc (Đại sứ Pháp) phải ký bằng được Hiệp ước với Liên Xô, về việc đi qua lãnh thổ Balan cũng được, bất chấp Balan có đồng ý hay không. Nhưng đã quá muộn, vì Liên Xô yêu cầu có được sự đồng ý chính thức của Balan. Ngày 28 tháng 8, Vôrôsilốp cho triệu Doumenc đến để thông báo rằng những điều kiện từ phía Pháp chuẩn bị là không đủ, và Liên Xô cần có câu trả lời chính thức từ phía Balan và Rumani. Thái độ của Balan thì hết sức rõ ràng: nguyên soái Balan Smigly-Rydz nói: “Với người Đức chúng tôi có nguy cơ sẽ mất tự do, nhưng với người Nga chúng tôi sẽ mất cả linh hồn!”.

Xin nhớ rằng, Hiệp ước Xô – Đức được ký ngày 23 tháng Tám năm 1939!

Quay lại với Đại hội Đảng cộng sản Liên Xô ngày 10 tháng Ba năm 1939, Xtalin không hề đả kích mạnh mẽ Hítle và tập đoàn cầm quyền của y. Ông chỉ nói rằng sự yếu kém của các nước phương Tây chính là nguyên nhân chính của những hành động bạo lực của Đức. Ông ta cũng chi ra rằng, không có căn cứ để xác định chính sách thù địch với nước Đức của Liên Xô.

Ngày 3 tháng Năm, Môlôtốp được cử giữ chức Ủy viên nhân dân ngoại giao. Ngày 17 tháng Tư năm đó, đại sứ Liên Xô tại Đức Mêrêkalốp đã gặp Quốc vụ khanh Đức Von Weizsacker vừa đề ra mắt, trình quốc thư và đồng thời xúc tiến thực hiện những Hợp đồng đã ký kết, được thực hiện tại những xí nghiệp quốc phòng của tổ hợp Skoda (Tiệp) bây giờ đã thuộc về Đức. Trong cuộc hội kiến, ông ta đã nói khá rõ ràng là Liên Xô đã đang và sẽ không lợi dụng mối bất hòa Đức – phương Tây, và không có lý do gì để cho quan hệ Đức – Xô xấu đi cả! Ngoài ra sau đó Liên Xô còn có một số những động thái mới, trong khi chính Đức quốc xã lại e dè, sợ rơi vào một âm mưu gì đó của Liên Xô!

Nhưng dần dần thì họ cũng nắm được cơ hội. Họ đang chứng minh cho Liên Xô thấy rằng, về ý thức hệ, Đức và Italia gần gũi hơn với Liên Xô trong việc chống lại “bọn tư bản phương Tây”! Và trong mối quan hệ hỗ tương đó, Đức sẽ đem lại cho Liên Xô nhiều hơn là những gì mà nước Anh sẽ mang lại cho Liên Xô!

Ở đây còn một kẻ vội vã nữa: chính là bọn Đức quốc xã. Chúng đã quyết định tấn công Balan vào ngày 1 tháng Chín, nên phải quyết định nhanh. Ngày 23 tháng Tám năm 1939, Von Ribbentrop đến Mátxcơva – y được ủy quyền toàn quyền ký với Môlôtốp một Hiệp ước có hiệu lực ngay. Ngay đêm đó Hiệp ước được ký kết, cam kết không xâm lược lẫn nhau, không tham gia vào một liên minh nào chống lại nước kia, không ủng hộ bất cứ một nước thứ ba nào chống lại nước kia và giải quyết những bất đồng qua trọng tài. Nhưng Hiệp ước không quan trọng bằng nghị định thư bí mật đi kèm. Theo A. Rossi (“Hai năm liên minh Đức – Xô”) thì nghị định thư này gồm 3 chương chính:

Chương 1: các nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Liên Xô gồm Phần Lan, Estonia, Látvia. Những nước nằm trong vùng ảnh hưởng của Đức có Lítva. Hai nước Đức – Xô công nhận quyền lợi của Lítva ở Vilna.
Chương 2: quy định ranh giới vùng ảnh hưởng của hai nước trên đất Balan, được vạch ra trên tuyến ba con sông Narép – Vixtuyn – Xan (Narew – Vistule – San) “Vấn đề liệu có nên, vì lợi ích của cả hai bên, duy trì một nước Balan độc lập và quy định các biên giới của nước này như thế nào, chỉ có thể được giải quyết trong diễn biến chính trị trong tương lai. Trong mọi trường hợp hai Chính phủ sẽ giải quyết bằng con đường thỏa thuận hữu nghị”.
Chương 3: ghi nhận sự quan tâm của Liên Xô đối với vùng Bétxarabi, và phía Đức quốc xã tuyên bố không có lợi ích chính trị nào ở khu vực này.

Xtalin đã nâng cốc chúc sức khỏe của Hítle: “Tôi biết là dân tộc Đức yêu mến vị Quốc trưởng của mình như thế nào; và tôi muốn được nâng cốc chúc mừng sức khỏe của ông ta”. Xtalin theo đuổi chính sách một nước Balan thu hẹp chỉ còn một dải đất mỏng dính kẹp giữa ông ta và Hítle, đủ để làm vùng đệm phòng thủ sau này.

Như vậy với Hiệp ước này, chính là thời khắc đánh dấu việc cuộc chiến tranh bùng nổ là không thể tránh khỏi.

7 – Thôn tính Balan – Bùng nổ cuộc Chiến tranh Thế giới lần thứ 2


Arthur Neville Chamberlain (1869 – 1940) Thủ tướng Anh

Từ đó trở đi, là thời gian của những sự kiện biên giới Đức – Balan, hầu hết do phía Đức gây ra. Đại tá Beck bình tĩnh một cách kỳ lạ. Ông ta ra tuyên bố lấy làm tiếc về việc Hiệp ước Đức – Balan bị phía Đức phá bỏ, và vẫn kiên quyết trong việc bảo vệ Đăngdích nhưng có vẻ không mấy cương quyết trong việc chuẩn bị chiến tranh. Trên thực tế, người dân Balan không hào hứng lắm với việc kháng chiến chống Đức. Theo nhiều tài liệu, Quân đội của Beck chỉ tuyển được có 700.000 quân trong số 3 triệu người trong tuổi động viên. Ngoài ra cho đến phút cuối cùng, Beck vẫn tin ở việc Đức không thể tấn công được trước cuối tháng Chín.

Ngày 30 tháng Tám, Đức lần cuối cùng đưa yêu sách 16 điểm, trong đó có việc thành phố tự do Đăngdích phải được sáp nhập vào Đức, Gdynia vẫn là của Balan nhưng bị phi quân sự hóa, và lập lại trật tự bảo vệ kiều dân Đức “đang bị vi phạm quyền lợi từ sau năm 1918”. Người Balan đã không nhận thức được những điều kiện đó, vì bây giờ tất cả phụ thuộc vào ý chí của Hítle: hoặc là Balan đầu hàng, hoặc chiến tranh!

Ngày 31 tháng Tám, Balan mới ra lệnh tổng động viên, thì đến 0 giờ ngày 1 tháng Chín, đất nước đã bị tấn công. Cùng lúc đó chính quyền thành phố Đăngdích tuyên bố tự sáp nhập vào nước Đức quốc xã.

Về quân sự, Balan không thể kháng cự được Đức. Đây là lần đầu tiên chiến thuật “Chiến tranh chớp nhoáng” (Blitzkrieg) được thử nghiệm thành công. Nhưng quân đội Balan cũng đã gây cho Đức những thiệt hại đáng kể.

Liên Xô bắt đầu động viên từng phần. Ngày 9 tháng Chín, Môlôtốp đánh tiếng với Đức là Liên Xô chuẩn bị can thiệp vào tình hình. Ngày 12 tháng Chín, ở Liên Xô có một chiến dịch báo chí rầm rộ về việc người Bạch Nga và Ucraina bị đối xử tồi tệ ở Balan.

Xin nhắc lại, từ tháng Năm năm 1939, Liên Xô đã tiến hành các cuộc giao tranh ở Khankhin Gôn, nhằm “dằn mặt” Nhật Bản. Và rõ ràng là Liên Xô đã hoàn toàn yên tâm về mặt này.

Ngày 17 tháng Chín năm 1939, viện cớ nội bộ nước Balan đã tan rã, các hiệp ước giữa Liên Xô và Balan đã không còn giá trị, nên quân đội Liên Xô tiến vào Balan để bảo vệ người Bạch Nga và Ucraina. Von Ribbentrop đã nói sự can thiệp của Liên Xô là hoàn toàn phù hợp với kế hoạch. Ngày 18 tháng Chín hai bên ra một tuyên bố chung Xô – Đức là việc hai nước liên minh quản lý nước Balan đã tan vỡ và cứu giúp nhân dân Balan. Nhưng đã xuất hiện những mầm mống đầu tiên của sự tan vỡ liên minh. Đức quốc xã không thiện cảm với chiến dịch của Liên Xô, tiến vào đất Balan mà chẳng vấp phải trở ngại nào, trong khi người Balan lại kháng cự kịch liệt ở phía Tây.

Ngày 22 tháng Chín, sau vài ngày thương lượng, ranh giới giữa hai nước được xác định nằm trên tuyến sông Pixa – Narép – Búc – Vixtuyn (tên Balan là Vixla) – Xan (Pissa – Narew – Bug – Vistule – San). Chính quyền Vácxava cố chống cự đến ngày 29 tháng Chín rồi thua hẳn. Thủ đô Balan nằm trong vòng kiểm soát của phát-xít Đức, từ bờ phải sông Vixtuyn (Vixla) thuộc về Liên Xô.

Như vậy cùng với sự tan rã của chính quyền Balan, Xtalin là từ bỏ ý định “nhân đạo” duy trì một những Balan “mỏng dính”. Ngày 27 tháng Chín, Von Ribbentrop đến Mátxcơva và ngày 28 ký một hiệp ước Xô – Đức mới, với một nghị định thư bí mật mới, trong đó quan trọng nhất là việc quy định lại ranh giới vùng chiếm đóng giữa hai nước, có lợi hơn cho Đức so với ranh giới ngày 22 tháng Chín vì không theo sông Vixla nữa mà theo sông Búc, đổi lại, Lítva sẽ chuyển sang vùng ảnh hưởng của Liên Xô. Ranh giới này có lợi hơn cho Liên Xô so với nước Nga của thời kỳ năm 1795, vì như vậy Liên Xô sẽ có thêm vùng Galicie và cũng có lợi hơn so với tuyến biên giới Curzon năm 1920.

Tiếp đó là những sự kiện khác của cuộc Đại chiến, trong đó có các âm mưu chống lại Liên Xô của phát-xít Đức. Một trong những sự kiện tôi cảm thấy cần nhắc đến là yêu sách của Đức đối với Liên Xô về đường biên giới Đức – Xô, được phía Đức đưa ra vào thời gian mùa xuân năm 1941, và Liên Xô đã chấp thuận vào ngày 25 tháng Tư năm 1941, rút quân về phía biên giới cũ của mình, chính tuyến biên giới mà ngày 22 tháng Sáu năm 1941, Hítle cho quân tràn qua bắt đầu bước vào cuộc phiêu lưu quân sự lớn nhất trong lịch sử.

KẾT LUẬN

Như vậy chúng ta có thể rút ra một số kết luận về những sự kiện lịch sử này. Về lịch sử mà nói, thì sự kiện Katyn là một tội ác của Bêria, nhưng chắc chắn có sự chỉ đạo của Xtalin. Trước Cách mạng tháng Mười, nước Balan nằm trong đế chế của Nga hoàng, như vậy có thể nói, nước Balan chưa bao giờ nguôi ý thức phản kháng với người Nga. Ngược lại, chắc hẳn người Nga cũng chưa thể quen ngay với việc nước Nga mất đi những khoảng đất lớn, như Balan và sau này, Tiểu Nga, Bạch Nga, các nước vùng Bantích và nhiều nữa… Hơn nữa như ở những phần đầu tôi đã trình bày, chính tại nước Balan cũng đã từng tồn tại những mưu đồ chống lại người Nga, thể hiện rõ nhất là những hoạt động của Bạch vệ Balan (gây rất nhiều tội ác) trong các vùng đất Ucraina và Bêlaruxia xô-viết thời nội chiến.

Sai lầm của chính giới Balan là ở chỗ họ đã có một thái độ thù địch quá rõ rệt với người Nga – khi mà không phải ai khác, chính chính quyền Xô-viết sau Cách mạng đã trả lại độc lập cho Balan, cũng như Phần Lan vậy. Cùng với tâm lý trên đây, sự thù địch quá rõ ấy đã đẩy họ vào thế hết sức bất lợi. Tiếp nữa, chính họ cũng là những người “yếu còn ra gió”, chưa lo được thân mình còn định đi chiếm đất của nước khác!

Lịch sử trong cùng một lúc xuất hiện đến ba “thằng đểu”. Người thứ nhất, chính là Thủ tướng Arthur Neville Chamberlain của Anh. Chính ông ta chứ không phải ai khác, muốn hướng cuộc chiến tranh của Đức sang phía Liên Xô.

Người thứ hai, là Xtalin. Đây là một người phức tạp và khó đánh giá. Ông ta rõ ràng là đúng khi tính toán chiến lược, vì nếu không chiếm được đất Balan làm vùng đệm thì Đức cũng chiếm, và thế thì còn nguy hiểm hơn. Cũng khó mà đoán được rằng liệu ông ta có tính toán cho việc sau này, Hồng quân Liên Xô sẽ tràn sang chiếm nước Đức, lập nên cả một hệ thống các nước XHCN ở Đông Âu hay không, vì thế vụ thảm sát Katyn như tác giả của loạt 8 bài đưa ra là nhằm làm sạch hậu phương của Hồng quân sau này, có vẻ như là xa vời quá. Theo tôi, đó là hành động “làm sạch” hậu phương của Hồng quân vào chính thời điểm đó thì đúng hơn. Nhưng Xtalin phải chăng đã quá ngây thơ khi tin vào hứa hẹn của Hítle? Tôi đoán thời gian đầu thì có, nhưng càng về sau thì ông ta càng không tin nữa và gấp rút chuẩn bị chiến tranh. Ông ta đã không đoán được ngay từ đầu rằng, việc đánh Liên Xô là tất yếu, chứ không phải nước Anh trước! Thực ra, Xtalin còn tàn ác cả với chính những người Xô-viết bị cho là chống đối, thì đúng là việc “xử lý” những sỹ quan Balan đó, cũng không quá khó hiểu. Có thể nói những sỹ quan bị thủ tiêu đó là nạn nhân của chế độ độc đoán Xtalin. Chính trị đồng hành với tội ác.

Người thứ ba, một thằng đểu chính hiệu là Hítle. Hắn đã rất logic khi tính toán là cuộc chiến chống nước Anh sẽ “cù cưa”, còn nước Pháp thì không được tính! Vì thế để đảm bảo nguồn lực cho cuộc chiến đó, sẽ phải là lúa mì Ucraina, là quặng Ural, là dầu Bacu! Vì thế mà hắn tính toán kỹ đến từng nước cờ và rõ ràng trên bàn cờ chính trị giai đoạn trước Đại chiến, hắn là người thắng cuộc. Hắn chỉ tính sai một điều, đó là hắn không biết người Nga là ai!

Ngày hôm nay, người Nga đã chính thức xin lỗi người Balan vì sự kiện Katyn bi thảm trên. Nhưng gần đây, nhất là trên các phương tiện thông tin đại chúng Việt Nam, cụ thể là trên mạng internet xuất hiện những bài báo còn chưa đầy đủ, phiến diện. Tôi muốn nghiên cứu những nguyên nhân dẫn đến nó như là một trong tổng thể những sự kiện nằm giữa hai cuộc chiến tranh thế giới, và nhất là nằm trong những sự kiện trực tiếp dẫn đến cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ 2. Những nguyên nhân của Katyn phải được xem xét dưới góc độ lịch sử khách quan và trong mối quan hệ biện chứng với những sự kiện khác là nguyên nhân của cuộc Đại chiến. Tôi muốn cố gắng để đưa ra một nghiên cứu đầy đủ và khách quan nhất về sự kiện trên, là như thế. Xin giành lời cuối để tưởng niệm những nạn nhân của tội ác, và mong tội ác sẽ không còn diễn ra trên thế giới trong tương lai gần.

phuongnn's Avatar phuongnn

Posted in Lịch sử | Leave a Comment »

Sự thật về vụ thảm sát Katyn và tội ác của Stalin

Posted by expressvnn on April 15, 2010

Sự thật về vụ thảm sát Katyn và tội ác của Stalin

Đài tưởng niệm nạm nhân Katyn ở Mỹ

Ngày 01/09/1939 Hitler tấn công Ba Lan, mở đầu Thế chiến lần thứ II. Thoả thuận ngầm với Đức Quốc Xã, ngày 17/09/1939, Liên Xô cho quân chiếm đóng các vùng phía Đông của Ba Lan. Khoảng hơn 20 ngàn sĩ quan, binh lính của quân đội quốc gia và cảnh sát Ba Lan bị bắt và bị nhốt tập trung trong các trại tù ở khu rừng Katyn (phía Tây của Belarus và Ukraine).(Hình phải:Đài tưởng niệm các sĩ quan Ba Lan bị sát hại tại Katyn (Baltimore, Hoa Kỳ)

Ngày 5/03/1940, Tổng thanh tra Bộ Nội vụ Liên Xô L. Beria gửi văn bản No. 794/B [794/Б] tới Stalin, đề nghị bắn bỏ không cần điều tra, luận tội 14.700 tù binh và 11.000 tù nhân khác (trong đó đại đa số là người Ba Lan) vì “không nhìn thấy sự hối cải của kẻ thù đối với lãnh đạo Xô Viết”.

Trên văn bản của L. Beria có các chữ ký của Stalin, Voroshilov, Molotov, Mikoian và thêm bút tích của Kalinin. Cùng ngày, Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng Sản (ĐCS) Liên Xô ra quyết định No. P13/144 chuẩn y đề nghị của Beria.

Ngày 22/03/1940, L. Beria ra sắc lệnh No. 00350 và một trong những cuộc thảm sát có kế hoạch lớn nhất trong lịch sử Ba Lan và thế giới trong thế kỷ XX đã xảy ra.

Sự dối trá và sự thật nhức nhối

Năm 1987, trong khuôn khổ của Pierestroika Michail Gorbachev đã đồng ý thành lập uỷ ban hỗn hợp Liên Xô-Ba Lan với mục đích tìm sự lý giải cho những vết đen lịch sử trong quan hệ hai nước. Gọi tên uỷ ban như vậy nhưng trong thực tế là tìm phương thức thích ứng để công khai hoá thủ phạm. Cũng cần lưu ý ở đây rằng, với cương vị Tổng bí thư và Chủ tịch Đoàn Chủ tịch Xô Viết Tối cao, chắc chắn Gorbachev đã biết rõ “Hồ sơ đặc biệt Số 1” và văn bản số RP-979 [РП-979] của Viện Hàn Lâm Khoa học Nga, trong đó có âm mưu tìm lại nguồn thảm sát tù binh Nga để phản công lại phía Ba Lan.

Andrei Kunert, giáo sư tiến sĩ sử học nổi tiếng của Ba Lan đã từng nói trước công luận rằng, chỉ riêng phía Nga tạo dựng sự việc thảm sát tù binh thuộc quân xâm lược Bôn-se-vich trong cuộc chiến 1920 giữa Nga và Ba Lan để làm đối trọng với Katyn – tội ác đối với hàng binh của nước Ba Lan bị xâm lược, tay không tấc sắt – đã là một trò đầu cơ bỉ ổi. Ông nói: “Các tài liệu lịch sử cho thấy rằng, trong 110 ngàn tù binh Bôn-se-vich đã có 66 ngàn trở về nước, phía Ba Lan không hề giết hại một người nào. Khoảng 24-28 ngàn là nạn nhân của dịch tả và dịch sốt Rickettsia (typhus) hoành hoành trên toàn Âu châu bấy giờ, và đúng với số lượng ấy người ta đã gạt qua những đơn vị chiến đấu với Ba Lan. Trong những năm 90, chính phủ Ba Lan đã trao lại cho phía Nga toàn bộ hồ sơ lưu trữ về vấn đề này”.

Vụ thảm sát Katyn đã được đưa ra Toà án Quân sự tại Nürnberg, Đức quốc, năm 1945. Công tố viên Liên Xô, tướng R.A. Rudenco đã buộc tội phát xít Đức thảm sát 11 ngàn tù binh Ba Lan tại Katyn. Tuy nhiên, đã không có phán xét chung cuộc vì không thể chứng minh được tội ác gây ra thuộc về người Đức.

Ngày 22/12/1953, một ủy ban của Thượng Viện Hoa Kỳ, sau nhiều cố gắng vận động của cộng đồng người Ba Lan tại Mỹ, đã gửi tường trình lên chính phủ và cáo buộc Liên Xô trước Toà án Quốc Tế (International Court of Justice) tại Den Haag (Netherlands), một định chế tư pháp của Liên Hiệp Quốc. Năm 1971, BBC cho chiếu bộ phim tài liệu với tựa đề: “Sự việc cần lãng quên”.

Cuối những năm 50, dưới chỉ đạo của tổng bí thư N. Khrushchev, sếp KGB Alexander Shlepin đã bí mật nghiên cứu hồ sơ Katyn, sau đó bằng văn bản N-632-SH [Н-632-Ш] ngày 3/03/1959, đề nghị tiêu huỷ 21.857 cặp tài liệu nhân sự về các nạn nhân Katyn mà Sheplin gọi là “những tên tù của Ba Lan tư sản” – được coi là không có giá trị phân tích cũng như lịch sử, chỉ giữ lại những thứ quan trọng nhất, tập hợp trong một bộ hồ sơ mang tên “Hồ sơ đặc biệt Số 1”. “Hồ sơ đặc biệt Số 1” này được cất giữ tuyệt mật và chỉ những người lãnh đạo cao nhất của đảng CS Liên Xô mới có quyền tiếp cận.

Năm 1978 người ta cho dựng bia kỷ niệm nạn nhân tại Katyn với dòng chữ: “Nạn nhân của chủ nghĩa phát xít – những sĩ quan Ba Lan bị bắn chết bởi quân đội Hitler trong năm 1941”.

Sự dối trá này được duy trì trong suốt gần 5 thập niên cuối của thế kỷ XX dưới chế độ cộng sản Ba Lan. “Katyn” trở thành đề tài nhạy cảm, bị cấm kỵ trong các tranh luận xã hội. Gia đình các nạn nhân phải ôm hận đau thương trong im lặng.

Năm 1989, chế độ cộng sản sụp đổ đầu tiên tại Ba Lan và tiếp theo là sự phá sản giây chuyền toàn bộ khối cộng sản tại Trung-Đông Âu và Nga. Ngày 14/10/1992, thừa lệnh tổng thống Boris Jeltsin, Viện lưu trữ Nga đã trao lại cho tổng thống Ba Lan L. Valesa toàn bộ các bản sao của Hồ sơ đặc biệt Số 1. Hồ sơ được công bố ngay cho công luận tại Ba Lan và tại Nga năm 1993 trên số đầu tiên của nguyệt san “Voprosi Histori”. Nhà nước Nga cũng đồng ý mở hồ sơ cho các nhà khoa học, lịch sử Ba Lan và các nước khác.

Ngày 30/11/2004, Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc Ba Lan (The Institute of National Remembrance – Commission of the Prosection of Crime against the Polish Nation) chính thức điều tra “Tội ác Katyn”.

Ngày 11/03/2005 Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga – mặc dù đã thu thập hàng trăm tập hồ sơ, tài liệu và đã có những cam kết hỗ trợ phía Ba Lan trước đó – ra thông báo về việc chấm dứt điều tra. Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga chính thức cho rằng, “không có cơ sở để kết luận Katyn là tội ác chống nhân loại”. Thông báo giải thích rằng, việc trấn áp, giam giữ và đối xử với binh sĩ Ba Lan phù hợp với các tiêu chuẩn phổ cập vào thời buổi đó. Nước Nga xem vụ Katyn là tội phạm thông thường, do đó đã quá thời hạn hiệu lực hồi tố. Tồn tại một lý do trong việc đóng hồ sơ không được nói ra là có sự đồng loã của đảng Cộng sản Ba Lan trong việc bắt giữ sĩ quan và binh lính của quân đội quốc gia Ba Lan.

Hố chôn tập thể nạn nhân vụ Katyn được tìm thấy ở Smolensk

Phía Ba Lan vẫn giữ quan điểm của mình. Viện Tưởng Nhớ Dân Tộc Ba Lan nhờ “Memorial”, một tổ chức xã hội Nga chuyên sưu tập và nghiên cứu tội ác của chủ nghĩa Stalin, đánh giá tính pháp lý của kết luận do Viện Công tố Quân sự Tối cao Nga đưa ra. “Memorial” đã trả lời dựa trên điều khoản 193 điểm 17 của Bộ luật hình sự Nga (RFSRR) rằng, đây là “tội lạm quyền của những người lãnh đạo cao nhất trong Bộ chỉ huy Hồng Quân Liên Xô”.(Hình phải:Hố chôn tập thể được tìm thấy)

Ngày 14/07/2007, quốc hội Cộng Hoà Ba Lan ra thông báo: “Để tưởng nhớ tất cả những người bị GUGB (*) giết hại trên cơ sở sắc lệnh của lãnh đạo cao nhất Liên Xô ngày 5/03/1940, Quốc hội Ba Lan quyết định lấy ngày 13 tháng Tư hàng năm làm Ngày Tưởng Nhớ Nạn Nhân Tội Ác Katyn”.

Nói về thái độ thay đổi lật ngược của phía Nga, W. Konończuk, chuyên viên Trung tâm Nghiên cứu Phương Đông của Ba Lan nói: “Ba Lan không phải là ngoại lệ. Người Nga cũng thể hiện tương tự trong các quan hệ với Ukraine và các nước vùng Baltic. Chúng ta đừng quên nguồn gốc của tổng thống Putin: chỉ đạo viết lại lịch sử Liên Xô, ông ta xoá bỏ những tội ác gây nên bởi lực lượng đặc biệt, nơi mà từ đó ông ta xuất phát tiến thân”.

A. Gurianov, chuyên viên về Katyn của Tổ chức “Memorial” giải thích: “Chính quyền Nga hiện nay nói chung muốn làm ngơ trước những trang sử đen tối của lịch sử nước tôi. Trong nước Nga hiện đại đang có những đề tài tranh luận hoàn toàn khác về quá khứ. Với tất cả sức mạnh người ta đang cổ vũ cho các sự kiện khơi dậy tính anh hùng và vị thế cường quốc của nước Nga. Phần còn lại tốt nhất là quên đi”.

Trong dư luận Ba Lan, nhiều người cho rằng, nếu phía Nga thừa nhận Katyn là tội ác (diệt chủng) chống nhân loại, thì hàng trăm ngàn người thân của các nạn nhân Ba Lan hiện nay có quyền đòi nhà nước Nga bồi thường trước công pháp quốc tế. Điều này sẽ là một tổn thất to lớn về vật chất và đạo đức cho nước Nga…

Posted in Lịch sử | Leave a Comment »

Căn cứ hải quân ở đảo Hải Nam một sai lầm của Trung Quốc

Posted by expressvnn on April 14, 2010

Việt Nam sẽ làm một vụ “Trân Châu Cảng ” như người Nhật đã làm với Hoa Kỳ trong Thế chiến thứ 2.


Với việc căn cứ hải quân của Trung Quốc chỉ cách bờ biển Việt Nam 270 km , khoảng cách này hoàn toàn nằm trong tầm ngắm chính xác của hệ thống phòng thủ bờ biển hiện đại nhất Thế giới mà Nga bán cho Việt Nam đó là hệ thống Bastion – P , chưa nói đến các tên lửa Scud X của Việt Nam . Thêm nữa Việt Nam hiện nay đã sử dụng một lượng lớn máy bay với tốc độ gấp 2 lần âm thanh (Tổng số 150 Mig-21, 53 Su-22, 12 Su-27,  4 Su-30MK2VS) , chỉ cần 6 đến 8 phút là các căn cứ của Trung Quốc ở đây có thể bị oanh kích một cách bất ngờ . Những chiếc Su 22 cải tiến này có khả năng mang được tên lửa chống hạm hiện đại nhất, sẽ là “con bài chiến lược” của VN trong tác chiến bảo vệ Trường Sa.


Tầm hoạt động rada 1500km của máy bay Su-30MK2V Flanker mang tên lửa tầm trung/tầm dài AA-10 Alamo gấp 10 lần hệ thống SAM mạnh nhất ở Việt NAM (S-300). Cho phép Flanker có tầm bao phủ nhiều hơn các vùng:

Hệ thống tên lửa rất cơ động

Cũng với các trang bị của Nga bán cho Việt Nam với các tàu phóng tên lửa nhỏ tốc độ cao với các loại tên lửa từ 120 Km đến 200 km , Việt Nam có thể kiểm soát hoàn toàn căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Nam hải .

Nếu Trung Quốc dám dùng vũ lực để đánh chiếm quần đảo Trường Sa từ tay Việt Nam thì khả năng Việt Nam sẽ làm trận “Trân Châu Cảng ” đối với hạm đội Nam Hải và các căn cứ quân sự ở đây(đặc biệt là từ căn cứ tập trung ở sân bay Thành Sơn của Việt Nam). Những chiếc trực thăng UH-1 cho đến nay vẫn được không quân Việt Nam sử dụng tốt hay những chiếc C-130 được mệnh danh là những con ma bóng đêm…

Hải quân Việt Nam đang được đầu tư mạnh, từng bước được hiện đại

Chiếm Trường Sa từ tay Việt Nam quả là không dễ .

Hơn nữa đảo Hải Nam là khu vực du lịch quan trọng với rất nhiều du khách Quốc tế đổ xô đến , xem ra tiền đồn lớn và quan trọng của Hạm đội Nam Hải đặt ở đây sẽ là điểm yếu để Việt Nam khống chế.

Posted in Biển Đông, Hải đảo, Quân sự | Leave a Comment »

Những đoạn quảng cáo buồn cười nhất năm 2008

Posted by expressvnn on April 8, 2010

Posted in Quảng cáo Sốc | Leave a Comment »

Xôn xao cư dân mạng hot girl và quả bóng!

Posted by expressvnn on April 8, 2010

ZHANG Xin-I là 1 hot girl chụp rất ảnh cùng trái bóng . Luôn đứng đầu trên các diễn đàn lớn là diễn viên trong phim “Dream of Mansions đỏ” cả nhà cùng xem bộ ảnh mới mà khiến cư dân mạng trung quốc phải ngước nhìn
















Posted in Sexy Sốc! | Leave a Comment »